Cái đình bằng gỗ trầm và ba bài thơ của Lý Bạch
Mùa xuân năm 743, vua Đường ngắm mẫu đơn bên Dương Quý Phi trong một cái đình tương truyền dựng toàn bằng gỗ trầm. Ông sai người đi gọi Lý Bạch. Lý Bạch đang say.
Trong cung Hưng Khánh ở Trường An, kinh đô nhà Đường, có một cái hồ gọi là Long Trì. Bên bờ đông hồ có một cái đình nhỏ. Tương truyền nó được dựng toàn bằng gỗ trầm, nên gọi là Trầm Hương Đình.
Tôi không biết chuyện gỗ trầm có thật không. Dựng nguyên một cái đình bằng thứ gỗ mà ngày nay người ta cân từng gam thì nghe như chuyện kể. Nhưng tên gọi ấy đã đi vào thơ, và bài thơ thì có thật.
Hoa đẹp, người đẹp, sao hát lời cũ
Mùa xuân năm 743, mẫu đơn trong cung nở. Vua Đường Huyền Tông, người đời sau quen gọi là Đường Minh Hoàng, cùng Dương Quý Phi ra Trầm Hương Đình ngắm hoa.
Theo lệ, ban nhạc Lê Viên của cung đứng sẵn. Lý Quy Niên, nhạc công giỏi nhất triều, chuẩn bị cất giọng hát một bài quen.
Vua gạt đi. Sách Tùng song tạp lục đời Đường chép lại đại ý lời ông: ngắm hoa quý, bên người đẹp, sao lại dùng lời ca cũ. Rồi ông sai Lý Quy Niên cầm chiếu đi gọi Lý Bạch, nhà thơ đang được giữ trong cung với chức Hàn lâm cung phụng.
Lý Bạch đang say
Chuyện kể rằng Lý Quy Niên tìm thấy Lý Bạch ở quán rượu, say đến mức đọc chiếu vua cũng không tỉnh. Người ta phải dìu ông lên xe, đưa vào cung, lấy nước lạnh vẩy lên mặt.
Lý Bạch mở mắt, cầm bút, và viết liền một mạch ba bài, đặt tên là Thanh bình điệu. Lý Quy Niên hát ngay tại chỗ, vua tự thổi sáo đệm theo.
Bài thứ ba kết bằng hai câu nhắc tới cái đình:
Giải thích xuân phong vô hạn hận,
Trầm Hương đình bắc ỷ lan can.
Tôi hiểu đại ý là: bao nhiêu nỗi buồn gió xuân cũng tan hết, khi tựa lan can ở phía bắc Trầm Hương Đình. Hoa đẹp và người đẹp cùng nhìn nhau, vua đứng xem mà cười.
Chiếc giày và một chữ
Có một giai thoại nổi tiếng gắn với hôm ấy. Lý Bạch đang say, giơ chân lên, bắt Cao Lực Sĩ, hoạn quan quyền thế nhất cung, cởi giày cho mình rồi mới chịu viết. Cao Lực Sĩ phải cúi xuống cởi.
Ông ta nhớ mối nhục đó. Trong bài thứ hai, Lý Bạch ví Dương Quý Phi với Triệu Phi Yến, một hoàng hậu nhà Hán nổi tiếng đẹp và cũng nổi tiếng là không ra gì. Cao Lực Sĩ đem chữ ấy nói với Dương Quý Phi: nhà thơ đang mỉa bà đấy. Dương Quý Phi giận. Vua dần lạnh nhạt.
Năm sau, 744, Lý Bạch rời Trường An. Sử gọi là "tứ kim phóng hoàn", vua ban vàng cho về. Ông không bao giờ quay lại làm quan nữa.
Các học giả đời sau phần nhiều cho rằng chuyện Cao Lực Sĩ bẻ chữ là người sau thêm vào. Nhưng chuyện Lý Bạch rời cung năm 744 thì có thật.
Cái đình hôm nay
Cung Hưng Khánh đã đổ nát từ lâu. Năm 1958, thành phố Tây An dựng lại một Trầm Hương Đình trên nền cũ, trong công viên Hưng Khánh Cung. Đình mới bằng gỗ sơn son, mái ngói lưu ly, tấm biển do Quách Mạt Nhược viết. Không có gỗ trầm.
Người ta vẫn đến đó ngắm mẫu đơn mỗi mùa xuân.
Điều tôi nghĩ
Tôi để ý một chuyện nhỏ. Trong cả ba bài thơ, Lý Bạch không tả mùi trầm. Ông tả hoa, tả người, tả gió xuân. Cái đình chỉ hiện ra ở câu cuối, như một chỗ để tựa lan can.
Có lẽ trầm là vậy. Nó không cần được nhắc. Nó chỉ cần ở đó, trong tên một cái đình, trong hơi gỗ quanh một buổi chiều có hoa và có người, để một nghìn ba trăm năm sau người ta vẫn nhớ buổi chiều ấy có mùi gì.
Chuyện sau: Cơn sốt kỳ nam ở Gộp Ngà. Một tin đồn, một nghìn người, và một ngọn núi bị đào tung.
Nguồn
- Giai thoại: chuyện Lý Quy Niên đi gọi Lý Bạch đang say, vua thổi sáo, và chuyện Cao Lực Sĩ cởi giày, bẻ chữ "Phi Yến", chép trong Tùng song tạp lục của Lý Tuấn (cuối đời Đường) và được Thái Bình quảng ký, Đường thi kỷ sự chép lại. Đây là sách ghi giai thoại, không phải chính sử. Tóm tắt theo Hoa Tây đô thị báo (16/10/2023).
- Truyền thuyết: đình dựng toàn bằng gỗ trầm là lời truyền, theo bài Đường cung Trầm Hương Đình vãng sự trên Sohu. Bài này cũng ghi việc dựng lại đình năm 1958 và tấm biển của Quách Mạt Nhược.
- Sự thật: ba bài Thanh bình điệu viết năm 743, nguyên văn và vị trí đình "phía đông Long Trì, cung Hưng Khánh" theo Đường thi tam bách thủ; bản phiên âm Hán Việt bài thứ ba theo Thi Viện. Phần dịch nghĩa trong bài là của tôi, không phải bản dịch thơ.